Hỗ trợ trực tuyến

Tư vấn 1 Tư Vấn 2
 (04) 35378311 - 0982.017.796

Tiện ích

Tiện ích

Hà Nội
Hồ chí minh
Đà nẵng
Giá Vàng 9999
Mua
Bán
Tỷ giá

Quảng cáo

Thống kê truy cập



DỊCH THUẬT CÔNG CHỨNG CÙNG CÔNG TY DỊCH THUẬT QUỐC TẾ New ocean

Đòi hỏi của dịch thuật

Email In PDF.
Làm việc với dịch thuật, người dịch bao giờ cũng vừa là tác giả vừa không phải là tác giả, vừa là người nói vừa không phải là người nói; mọi diễn đạt vừa là của anh ta, vừa không phải của anh ta. Mặc dầu giữ hai vai trò độc lập, người dịch cũng không được độc lập mà bị ràng buộc vào tính độc lập của văn bản gốc để đảm bảo tính tương đương. 

Tất nhiên bản dịch phải tương đương với bản gốc. Ðó là đòi hỏi của dịch thuật. Một bản dịch lý tưởng nhất là một bản dịch hoàn toàn tương đương với bản gốc từ nội dung cho tới hình thức. Song trong thực tế, rất khó thỏa mãn được yêu cầu này vì lý do: sự khác biệt giữa ngôn ngữ và ngôn ngữ. Cũng cùng một nội dung, nhiều khi ngôn ngữ này dùng từ ngữ, đặt câu thế này, ngôn ngữ kia lại dùng từ ngữ, đặt câu thế khác. Hoặc, cũng cùng một câu nhưng ý nghĩa lại khác nhau. Dẫu vậy, điều đòi hỏi căn bản của dịch thuật vẫn là làm sao diễn đạt được ý nghĩa của văn bản gốc một cách trung thực. Cụ thể là ít nhất người dịch phải thỏa hai điều kiện chính, một là nhuần nhuyễn ngôn ngữ gốc và ngôn ngữ dịch, hai là, tùy lĩnh vực, phải nắm được những hậu cảnh văn hóa, xã hội, lịch sử, khoa học kỹ thuật, ... và kể cả quan niệm thẩm mỹ trong nguyên tác. 

Koller đề nghị người làm công việc dịch thuật nên lưu ý đến "5 tính tương đương" sau đây (s.s. Koller, 1992:216):
  1. Tương đương nghĩa hẹp (Denotative Äquivalenz) 

    Nghĩa hẹp được hiểu là nghĩa chính về mặt từ vựng của một từ chưa bị người sử dụng biến đổi. Tính tương đương nghĩa hẹp đòi hỏi ý nghĩa từ vựng của hai văn bản phải tương đương bất kể ngôn ngữ. Có ít nhất 6 loại quan hệ tương đương: 
    • Quan hệ 1:1 (1 ứng 1): Một từ tương đương với một từ. 

      "vườn" (Việt) tương đương "garden" (Anh), "Garten" (Ðức)
    • Quan hệ 1:n (1 ứng n): Một từ tương đương với nhiều từ. 

      "tự động" (Việt) tương đương "automatisch", "selbsttätig" (Ðức)
    • Quan hệ n:1 (n ứng 1): Nhiều từ tương đương với một từ. 

      "hổ", "cọp" (Việt) tương đương "tiger" (Anh), "Tiger" (Ðức)
    • Quan hệ m:n (m ứng n): Nhiều từ tương đương với nhiều từ. Trong trường hợp này, một ngôn ngữ có thể có nhiều từ hoặc ít từ hơn ngôn ngữ kia. 

      "mẹ", "má", "mạ" (Việt) tương đương "Mutter", "Mutti", "Mami" (Ðức)
    • Quan hệ 1:0 (1 ứng 0): Một ngôn ngữ có một hay nhiều từ mà ngôn ngữ kia không có. 

      "bể dâu", "trống canh", "đồng bào" (Việt). Tiếng Ðức, tiếng Anh không có.
    • Quan hệ tương đương từng phần. Một ngôn ngữ có một từ gần nghĩa với một từ của ngôn ngữ kia. 

      Những tiếng xưng hô của tiếng Việt như "anh", "em", "mày", "mi", "con", ... gần nghĩa với "Du" của tiếng Ðức,"Tu" của tiếng Pháp
    • Hoặc "Onkel" của tiếng Đức gần nghĩa với "bác", "chú", "cậu" của tiếng Việt.
  1. Tương đương nghĩa rộng (Konnotative Äquivalenz) 

    Nghĩa rộng được hiểu là ý nghĩa của một từ đã được mở rộng. Ý nghĩa thay đổi tùy người sử dụng và/hoặc ngữ cảnh, hoàn cảnh. Tính tương đương nghĩa rộng còn đòi hỏi sự lưu ý đến những từ được sử dụng như một ẩn dụ hoặc từ gần nghĩa (trong tiếng lóng, tiếng địa phương, ...). 
    • Nghĩa rộng của "đầu" (Việt) là hiểu biết (có đầu óc), tương đương với "Kopf" (Ðức)
    • Nghĩa rộng của "tim" (Việt) là tấm lòng (có trái tim), tương đương với "Herz" (Ðức)
  1. Tương đương văn bản chuẩn (Textnormative Äquivalenz) 

    Văn bản chuẩn được hiểu là những văn bản được lập thức (formulieren) một cách chuẩn xác (normativ) để được mọi người hiểu một cách thống nhất. Tiêu biểu là văn bản hiến pháp, văn bản luật, văn bản hành chính, văn bản hướng dẫn sử dụng, văn bản khoa học kỹ thuật, ... 

    Văn bản chuẩn có tính hiển ngôn và độ chính xác cao. Ý nghĩa chính hoặc quan trọng được diễn tả bằng thuật ngữ hay từ chuyên môn. Cách đặt từ, câu cú có phong cách riêng. Phong cách viết chuyên luận khoa học khác phong cách viết hiến pháp, phong cách viết luật khác phong cách viết văn kiện hợp đồng, ... 

    Tính tương đương văn bản chuẩn đòi hỏi bản dịch phải có độ chính xác cao hầu như tuyệt đối.
  2. Tương đương ngữ dụng (Pragmatische Äquivalenz) 

    Để diễn tả một ý nghĩa, nhiều khi cách hành ngôn của hai ngôn ngữ không giống nhau và không thể dịch 1:1, tức dịch sát từng chữ một. Trong trường hợp này, người dịch phải theo cách hành ngôn của ngôn ngữ dịch. Ví dụ: 

    "Good Morning, Mr. Hung" không thể dịch 1:1 sang tiếng Việt thành "Chào buổi sáng, ông Hùng" vì người Việt không có lối hành ngôn "chào buổi sáng", "chào buổi tối", ... giống người Tây phương. Ở đây chỉ có thể dịch thành "Chào ông Hùng"

    "What is your name?" không thể dịch 1:1 sang tiếng Việt thành "Tên anh là gì?". Người Việt không hỏi vậy mà là hỏi "Anh tên là gì?" theo nguyên tắc Ðề-Diễn (Theme-Rheme) (Dũng Vũ 2003:36) hoặc "Anh tên gì?"
  3. Tương đương mỹ hình (Formal-ästhetische Äquivalenz) 

    Tương đương mỹ hình được hiểu là tương tự về mặt thẩm mỹ trong việc tạo hình. Tính cách này có ý nghĩa đặc biệt đối với những tác phẩm văn chương. Từ vựng, cú pháp, văn phong, lối dàn dựng văn bản dịch phải được kiến tạo sao cho đạt được tác dụng thẩm mỹ tương tự văn bản gốc. 

    Dịch văn chương cần nhiều cảm xúc, song không có nghĩa là tùy tiện. Trái lại, người dịch phải thật kỷ luật để tránh những kiến tạo thiếu kiểm soát, vụng về có thể làm cho bản dịch lệch ý bản gốc hoặc mất tính văn chương. Người dịch cần phân tích kỹ lưỡng tính tương đương theo nhiều phạm trù: niêm luật, biến thể, âm điệu, đặc biệt là phong cách diễn đạt dựa vào lối chơi chữ, ẩn dụ, từ vựng và cú pháp.

"... 
Mais, vrai, j'ai trop pleuré. Les aubes sont navrantes, 
Toute lune est atroce et toul soleil amer. 
L'âcre amour m'a gonflé de torpeurs enivrantes. 
Oh ! que ma quille éclate ! Oh ! que j'aille à la mer ! 
..." 
(Le bateau ivre - Arthur Rimbaud, 1872)
Thi đoạn trên là một phần được trích từ nguyên bản Le bateau ivre của Arthur Rimbaud. Mỗi thi đoạn như vậy gồm có bốn dòng và có vần. Bản dịch tiếng Ðức của Walther Küchler dưới đây cố giữ nguyên hình thức ấy:

"... 
Ich hab zuviel geweint. Weh tun die Morgenhellen, 
Wahr, jeder Mond ist bös und jede Sonne Leid. 
Die bittre Liebe ließ zu starrem Rausch mich schwellen. 
Oh ! bräche doch mein Kiel ! O Meer, ich bin bereit ! 
..." 
(bản dịch tiếng Ðức: Das trunkene Schiff - Walther Küchler (1978))
Khác với hình thức dịch của Küchler, bản dịch tiếng Việt của Nguyễn Chí Trung [6] bên dưới thể hiện rõ tính tương đương mỹ hình. Vì lý do khó diễn tả ý nguyên tác trong bốn dòng, tác giả đã chọn một hình thức tạo hình tương tự: mỗi thi đoạn gồm sáu dòng. Ðể diễn tả vần, tác giả chọn thể thơ lục bát:

"... 
Quả thật, ta khóc nhiều rồi. 
Bình minh bi thống. Mặt trời đắng cay, 
Mặt trăng tàn nhẫn. Tình này 
Tình khắc nghiệt cho ta say mê hồn 
Ván thuyền ôi hãy vỡ luôn ! 
Ôi ! Cho ta mất vào nguồn biển sâu ! 
..." 
(bản dịch tiếng Việt: Con tàu say - Nguyễn Chí Trung (2000))
Dù người dịch được tự do sáng tạo bằng một hình thức tương tự nhưng đôi lúc vẫn không tránh khỏi những trường hợp bất khả dịch, chẳng hạn như cách chơi chữ của bản gốc. Gặp trường hợp này, thay vì bỏ qua, người ta thường để nguyên những cụm từ nguyên gốc và bình luận, giải thích thêm ở phần chú thích (sẽ nói sau). 

Tóm lại, theo Koller, đó là 5 tính tương đương cần lưu ý trong dịch thuật. Một bản dịch càng đạt khi càng thỏa các tính tương đương ấy, đặc biệt là tính tương đương mỹ hình.